Sách

“Trăm Năm Cô Đơn” Nói Về Điều Gì? Tại Sao Lại Khó Hiểu?

Trăm năm cô đơn

Nỗi cô đơn chính là nhân vật chính của cuốn sách, bất kể trải nghiệm của từng cá nhân có ra sao, cả bảy thế hệ của gia đình Buendía cuối cùng đều được khắc cùng một dòng chữ lên bia mộ – cô đơn.

Sự cô đơn này không chỉ đơn thuần là trạng thái “ở một mình”, mà là một nghịch cảnh hiện sinh sâu sắc. Đó là sự bất lực của con người trong việc thực sự chia sẻ cùng một góc nhìn chung với người khác.

Dù có sống cùng một căn nhà, ăn cùng một mâm cơm, và thậm chí ngủ chung một giường, không ai thực sự hiểu ai, và không ai cùng có một góc nhìn chung về thế giới. Nói rõ ra là họ không phải không hiểu nhau bằng ngôn ngữ, cái khiến họ cô đơn nằm ở sự khác biệt về tri thức, cảm xúc, và lối sống mà ngôn ngữ thông thường không thể diễn giải trọn vẹn.

Ở thế hệ thứ nhất, nỗi cô đơn đến từ sự đắm chìm của José Arcadio

José Arcadio Buendía – người đứng đầu gia đình, bị ám ảnh bởi những thỏi nam châm, thuật giả kim và các phát minh kỳ lạ do người du mục Melquíades mang đến. Vì quá đắm chìm vào những ảo tưởng của riêng mình, ông dần trở nên mất trí.

Trong khi đó, vợ của ông – bà Úrsula, chỉ biết cho các con ăn ngoài sân, nấu nướng trong bếp và buôn bán nhỏ lẻ ngoài chợ. Những gì bà làm đều để duy trì cuộc sống của gia đình.

Cả hai người sống cùng nhau hàng chục năm nhưng không ai thực sự bước vào thế giới của nhau. Buendía già sống trong những ý tưởng kỳ quặc và điên rồ; trong khi vợ ông, chỉ biết đến những nhu cầu thường nhật và những đứa trẻ đói khát.

Cuối cùng, trong suốt quãng đời còn lại, Arcadio Buendía bị trói vào một gốc cây dẻ, nói một thứ ngôn ngữ mà không ai hiểu được cho đến khi qua đời.

Úrsula đã nghĩ gì trước sự ra đi của chồng mình. Tất nhiên bà sẽ buồn, nhưng bà thật sự không hiểu ông nghĩ gì. Bà chưa bao giờ cố gắng để hiểu điều đó, khi đôi vai vẫn còn nặng gánh những nỗi lo cơm áo gạo tiền của gia đình.

Đây cũng chính là hình thức đầu tiên của sự cô đơn trong gia đình nhà Buendía, khi cuộc sống đẩy hai người sang hai hướng hoàn toàn khác nhau. Không ai sai, nhưng cũng không ai đủ sức để bước về phía đối phương.

Trăm năm cô đơn

Ở thế hệ thứ hai, sự cô đơn đến từ việc đánh mất khả năng yêu thương

Đại tá Aureliano Buendía – một nhân vật nổi bật nhất cuốn sách, có khiếu nghệ thuật, thích làm thơ, đồ mỹ nghệ và có tính cách hiền lành, trầm lặng.

Khi phe tự do và phe bảo thủ giao tranh, ông ta bằng cách nào đó đã trở thành lãnh đạo của phe tự do và dẫn dắt quân đội tham gia nhiều cuộc chiến trên khắp đất nước. Ông lãnh đạo hơn ba mươi cuộc khởi nghĩa và đều thất bại hết thảy.

Dần dần, ông giữ chức Tổng tư lệnh quân đội cách mạng và kiểm soát những vùng lãnh thổ rộng lớn. Trong thời kỳ đỉnh cao quyền lực, ông dần trở nên xa cách và lạnh lùng một cách tàn nhẫn. Ông lắng nghe mọi báo cáo chiến sự từ các sĩ quan, nhưng lại mặc kệ lời nhắn được gửi từ phương xa của mẹ mình.

Trong suốt cuộc chiến, ông đã chứng kiến quá nhiều sự phản bội, quá nhiều cái chết vô nghĩa, và quá nhiều người làm những chuyện hèn hạ dưới vỏ bọc mang tên lý tưởng nơi chiến trường.

Mục đích chiến đấu ban đầu của ông đã gần như tan biến. Lòng nhiệt thành và yêu tự do đã không còn như trước khi ông nhận ra những kẻ theo phe bảo thủ hay tự do đều giống nhau khi họ chiến đấu. Tất cả đều chỉ nhắm vào cùng một chiếc ghế.

Không ai có thể gánh vác được những gánh nặng mà ông trải qua.

Ông là Tổng tư lệnh và không thể lúc nào cũng bảo “Tôi không biết”, “Tôi không chắc” và “Những gì chúng ta làm thật vô nghĩa”… Ông chỉ có thể nuốt ngược những lời đó vào trong, rồi dần trở nên im lặng hơn.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ông trở về quê nhà, tự nhốt mình trong một xưởng nhỏ và chế tác những con cá bằng vàng. Ông tạo nên chúng, rồi nấu chảy chúng, sau đó lại tiếp tục chế tác lại từ đầu. Không ai hiểu ông. Họ cho rằng tâm trí ông đã bị tổn thương sau chiến trận.

Nhưng, việc làm không mục đích và không ý nghĩa đó lại là điều tỉnh táo nhất ông từng làm. Cuối cùng, ông chọn một lối sống không cần phải giải thích bản thân với ai. Công việc tưởng như vô tri đó khiến ông không cần cân nhắc đến suy nghĩ hay cảm xúc của người nào.

Ông tìm đến sự bình yên nội tâm bằng cách tách mình ra khỏi mọi kết nối.

Đây là dạng cô đơn thứ hai, bạn trải qua quá nhiều, bạn biết quá rõ, và bạn không thể giải thích rõ ràng vì bạn không muốn nói về nó nữa. Kể cả khi bạn mở lòng, người khác cũng không thể đi vừa đôi giày của bạn được. Và giả dụ như họ có thể thấu hiểu bạn, thì họ cũng chẳng thể giúp gì.

Bạn chỉ còn cách tự khép mình, trở nên tách biệt và không cho ai bước vào thế giới nội tâm của mình nữa.

Trăm năm cô đơn

Ở thế hệ thứ ba và thứ tư, nỗi cô đơn dần trở thành một quy luật

Có thể nói, mỗi thành viên trong gia đình Buendía đều lớn lên trong một mối quan hệ thất bại của những người đi trước. Cha mẹ họ không thể cho họ sự thấu hiểu và sự chia sẻ chân thành, vì vậy họ lớn lên với một sự thiếu thốn bẩm sinh.

Nổi bật trong đó có Arcadio II – quản đốc của một công ty chuối, đã chọn đứng về phía các công nhân và dẫn dắt họ biểu tình. Sau tất cả, Arcadio II đã sống sót giữa một đống xác chết trong một toa tàu, sau khi quân đội chính phủ được trang bị súng máy đến và bao vây công nhân tại quảng trường nhà ga.

Trong khi đoàn tàu đang di chuyển về phía biển, Arcadio II chọn nhảy khỏi tàu và chạy về Macondo. Mở cửa ra, điều đầu tiên ông ta nói với mẹ là “ba nghìn người đã thiệt mạng”.

Nhưng mẹ ông ta lại phủ định điều đó, và cho rằng không một ai chết cả.

Không chấp nhận, Arcadio II lao ra đường và hỏi tất cả những người ông ta bắt gặp rằng có ai biết chuyện gì đã xảy ra ở nhà ga xe lửa không. Và đương nhiên, ai cũng đinh ninh rằng chẳng có việc gì xảy ra cả.

Chính phủ, sau đó, cũng đưa ra một thông điệp thống nhất, rằng làng Macondo hoàn toàn bình thường và các công nhân đã tự nguyện quay trở lại làm việc.

Sau chuyện đó, Arcadio II không còn ra ngoài nữa. Ông nhốt mình trong một căn phòng nhỏ và nghiên cứu những cuộn giấy da. Ông không sợ chết. Hơn hết, ông sợ rằng hơn ba nghìn cuộc đời mà ông chứng kiến sẽ bị xóa sổ khỏi dòng chảy lịch sử.

Nỗi cô đơn của ông, theo đó, cũng là điều nặng nề nhất. Khi bạn nắm giữ sự thật trong tay, nhưng không một ai chọn tin những gì bạn nói. Họ cho rằng bạn chỉ đang mơ giữa ban ngày, hoặc thậm chí nói bạn bị điên. Cuối cùng, bạn chỉ còn cách tách mình khỏi họ để không phải bị chỉ trích và cười nhạo.

Márquez đã nghĩ gì khi viết những điều này?

Liệu tác giả chỉ đang bịa đặt hay đang tường thuật lại những sự thật mà chúng ta chưa biết.

Remedios Người Đẹp bay lên thiên đường, làng Macondo – nơi trời mưa suốt hơn bốn năm, đứa bé có đuôi lợn bị một đàn kiến khổng lồ tha đi,.. tất cả chỉ là chuyện bịa đặt. Nhưng nỗi cô đơn, sự cô lập giữa người với người, chính phủ che giấu sự thật, nỗi tuyệt vọng không thể cất thành tiếng… lại là những điều mà chúng ta vẫn đang đối mặt hàng ngày trong đời sống thường nhật.

Gabriel García Márquez sinh ra và lớn lên ở Colombia. Ông đã chứng kiến quá nhiều cuộc chiến, quá nhiều nhà độc tài, quá nhiều người biến mất không dấu vết bị ngó lơ trên các tờ báo chính thức.

Ông thừa hiểu rằng nếu hai người không cùng trải qua một góc nhìn hay trải nghiệm giống nhau, không cần phải chĩa súng vào một trong hai người và bắt họ im miệng, chỉ cần khiến những người còn lại nói “nó không phải như vậy” và mọi chuyện sẽ đi đúng hướng bạn muốn.

Sự dối trá nếu lặp lại đủ lâu sẽ nghiễm nhiên trở thành sự thật và được công nhận bởi đám đông.

Trăm năm cô đơn

Bạn vẫn sẽ sống trong thế giới đó, nhưng bạn đã trở thành một con cừu đen, bị tách biệt ra khỏi bầy đàn bởi chính những gì bạn cho là đúng nhưng người khác thì không.

Cảm giác này đã được tác giả khái quát hóa và áp dụng cho mọi thành viên trong gia đình Buendía.

Gia đình Buendía ở Macondo thuộc Colombia. Người dân nơi đây đã bị hành hạ bởi bọn thực dân, độc tài, các tập đoàn đa quốc gia và các chính phủ tham nhũng. Hết thế hệ này đến thế hệ khác đều tin rằng họ có thể làm gì đó để thay đổi số phận, nhưng sau mọi nỗ lực họ đều quay trở lại vạch xuất phát.

Cảm giác cứ mãi luẩn quẩn trong vòng tròn đó là nguồn gốc ẩn dụ cho cuộn giấy da. Không phải Chúa đã viết nội dung đó, mà chính là lịch sử.

Cấu trúc xã hội, hoàn cảnh gia đình, tính cách và gen di truyền… những thứ được định sẵn trước khi bạn sinh đã góp phần viết nên cuộc đời bạn. Bạn vùng vẫy thoát khỏi nó, nghĩ rằng mình có thể bơi ngược dòng, nhưng lại bị cuốn theo hướng nó chảy mà không hay biết.

Phần nhàm chán nhất là bạn sẽ biết trước kết cục của nhân vật

Ngay từ lúc ông Đại tá bắt đầu đúc những con cá vàng, chúng ta đều biết ông ta sẽ thất bại. Ngay từ lúc Amaranta may tấm vải liệm, ta đều biết người này không có một kết cục tốt đẹp rồi. Từ lúc Rebecca bắt đầu ăn đất, ta đủ biết những ham muốn và dồn nén rồi sẽ nuốt chửng cô.

Sao lại có thể đoán được? Bởi vì khi mô típ hành vi này xuất hiện, rất dễ thấy đó là một vòng tròn khép kín.

Quá trình đúc con cá bằng vàng là một chu trình khép kín khi Đại tá Aureliano Buendía chế tác nó xong lại nấu chảy nó rồi bắt đầu lại. Quá trình may vải liệm bao gồm việc tháo rời các bộ phận rồi may lại với nhau, cũng là một vòng tròn khép kín. Rồi việc ăn đất khi cơn thèm đãng trỗi dậy, sau đó là sự hối hận, rồi sau đó nữa lại tiếp tục ăn nó, đó là một vòng luẩn quẩn.

Mới đầu, ta tưởng đó chỉ là thói quen để họ trốn tránh sự cô đơn. Nhưng lâu dầu, những hành động đó lại trở thành nỗi cô đơn của chính họ.

Khi đúc con cá vàng, Đại tá chẳng cần nói chuyện với ai cả, và rồi ông chọn cách làm quen với việc không nói chuyện với ai. Khi Amaranta may tấm vải liệm, cô không phải đối mặt với mâu thuẫn giữa khát vọng và nỗi sợ hãi về tình yêu, bởi vậy vấn đề của cô rồi cũng bị bỏ mặc theo năm tháng. Khi Rebecca ăn đất, cô không phải đối mặt với những ham muốn bị kìm nén và những xung động bạo lục của mình, và vì thế cô không bao giờ học được cách sống chung với nó.

Sự lặp lại chính là nơi họ nương náu, nhưng không một món quà nào đến mà không kèm một cái giá phải trả. Chính những nơi nương náu này rồi sẽ trở thành chiếc lồng giam cầm họ. Và như không hay biết điều đó, họ vẫn chọn dấn thân vào nơi ngục tù ấy để tìm chút khoảng lặng ngắn ngủi.

Chi tiết mà bạn dễ bỏ qua trong Trăm năm cô đơn

Úrsula sống thọ hơn trăm tuổi, nhưng vào những năm cuối đời bà lại bị mù. Bà chọn không để ai biết về vấn đề của bản thân. Và bà đi lại trong nhà dựa trên ký ức đã tồn tại trong mình qua hàng thập kỷ, đánh giá những gì xảy ra xung quanh bằng âm thanh, mùi hương và sự chuyển động của không khí.

Không một ai nghi ngờ điều đó – một điều bạn có thể cho là vô lý. Nhưng nó lại trở nên có lý khi đặt để trong gia đình Buendía.

Họ xem Úrsula như một người bà, người mẹ. Họ tìm đến bà khi gặp thiếu thốn về tiền bạc, thức ăn, hay đương khi cần người dọn dẹp mớ hỗn độn. Dù vậy, họ chưa một lần thực nhìn nhìn vào gương mặt bà. Nếu họ để ý, họ sẽ thấy ánh mắt của bà đờ đẫn và ánh nhìn thiếu tập trung. Nhưng họ không làm vậy. Họ chọn sống trong thế giới của riêng mình, bận rộn, ngột ngạt, và không có dư thời gian dành ra cho một cụ già.

Trăm năm cô đơn

Nhưng vì sao Úrsula chọn im lặng?

Vì sống trong gia đình này hơn trăm năm là đủ để bà nhận ra một điều – có nói cũng vô ích.

Biết bà bị mù rồi sao? Cả nhà sẽ rối rít đi tìm thầy lang, thuốc men, rồi lại đến thăm bà ấy, động viên, an ủi… Sau đó thì sao, ai về nhà nấy và mọi người lại tiếp tục công việc và cuộc sống thường nhật. Bà ấy rồi vẫn sẽ phải tự gánh vác mọi thứ một mình.

Bà chọn cách không nói ra để tránh mấy lời hỏi thăm xã giao, những rắc rối của mấy thứ như lễ nghĩa và thủ tục. Bà chọn bỏ qua đoạn mở bài và đi thẳng vào kết thúc – tự mò mẫm, tự làm quen, và tự bước đi.

Đây cũng là phần trong cuốn sách khiến mình khó chịu nhất. Úrsula là người duy nhất trong gia đình luôn luôn cho đi, bà đã dành trọn cuộc đời mình để bịt kín những vết nứt, giữ vững mái nhà, và nuôi sống mọi người. Nhưng cuối cùng, điều bà nhận lại lại chính là không ai trong nhà thực sự nhìn thấy bà.

Sự cô đơn của bà không phải là một sự lựa chọn chủ động, mà là do sự thờ ơ của những người thân thích xung quanh.

Márquez muốn đạt được điều gì khi viết Trăm năm cô đơn?

Ông viết về nỗi cô đơn một cách sâu sắc và sự xa cách giữ người với người một cách tuyệt vọng, vậy ông muốn nói rằng cuộc sống này là vô nghĩa? Không phải vậy. Ông chỉ muốn mọi người hiểu một điều, đối lập với sự cô đơn không phải là đám đông nói cười với nhau, không phải là sự náo nhiệt, cũng không phải là sự thỏa mãn ham muốn tức thời.

Trên hết, nó là sự thấu hiểu.

Đó chính là cảm giác, dù chưa kịp nói thành lời, người khác đã phần nào hiểu được những gì bạn đã trải qua. Trước khi bạn kịp cất tiếng, thì người khác đã tránh sang một bên và nhường đường cho bạn rồi. Họ biết bạn không hiểu, nhưng họ vẫn muốn kể với bạn điều này, vì họ biết bạn sẽ chăm chú và sẵn lòng lắng nghe.

Mối quan hệ như này chưa từng tồn tại trong gia đình Buendía. Rõ ràng họ có cảm xúc, có tình yêu và huyết thống, nhưng họ không hiểu. Tình yêu của họ luôn thiếu một điều gì đó. Đại khái là tôi sẽ cố gắng bước vào thế giới của bạn, dù nó có xa lạ với tôi.

Có một mối quan hệ đã suýt nữa phá vỡ lời nguyền này. Đó là Aureliano Segundo và tình nhân của ông, Petra Cotes. Người phụ nữ này không thuộc gia đình Buendía vì hai người sống với nhau gần như cả đời và không bao giờ kết hôn.

Người vợ đầu của Aureliano Segundo là một quý bà đoan trang và kín đáo, nhưng ông và bà chưa bao giờ thực sự thân thiết với nhau. Ngược lại, Petra Cotes lại hiểu ông hơn cả. Khi hai người ở bên nhau, không hề có sự trao đổi tâm trí sâu sắc nào, vì tất cả chỉ xoay quanh nhục dục.

Nhưng chính mối quan hệ ít mang phong cách Buendía nhất lại chính là mối quan hệ bền chặt và ổn định nhất trong toàn bộ cuốn sách.

Trong những năm mưa bão, Aureliano Segundo rơi vào cảnh nghèo khó, và Petra Cotes đã ở bên giúp đỡ ông mà không hề than phiền. Họ vẫn giữ tình cảm trìu mến cho nhau kể cả khi đã đến tuổi xế chiều.

Như vậy, phương thuốc chữa trị nỗi cô đơn có thể không nằm ở tâm trí, mà nằm ở những điều thường nhật trong cuộc sống. Không phải bạn sẽ hết cô đơn nếu bạn tìm cách, mà là bạn sẽ dần không còn thấy cô đơn nữa khi cùng người khác làm điều gì đó.

Nhưng gia đình Buendía lại không làm được như vậy. Họ đắm chìm vào những bi kịch nội tâm vĩ đại của mình, để rồi xem thường những mối liên kết đơn giản mà họ cho là hời hợt ấy. Kết quả là họ giữ được chiều sâu tư tưởng nhưng lại đánh mất đi khả năng kết nối với những người xung quanh.

Trăm năm cô đơn

Cái kết ngoạn mục nhất trong lịch sử văn học

Aureliano VI vì cố gắng giải mã cuộn giấy da gia truyền của gia đình mà không kể làm việc ngày đêm. Tấm giấy da này do một người Digan để lại cách đây nhiều thập kỷ và được viết bằng thứ tiếng không ai hiểu được.

Nhiều thế hệ đã cố giải mã nó nhưng đều thất bại.

Trong những giây phút cuối cùng trước khi gia đình đứng trên bờ vực sụp đổ hoàn toàn, Aureliano đột nhiên bị một điều gì đó thôi thúc để bắt đầu đọc từng dòng một của cuốn sách.

Ông biết được rằng những gì viết trên tấm da không phải lịch sử thông thường mà là số phận của từng người trong gia tộc Buendía. Mọi thứ đều đã được ghi chép từ trước. Khi ông đọc nó, một số đã xảy ra rồi, một số thì vẫn chưa.

Sau đó, ông đọc đến đoạn văn viết về chính mình và nhận ra hành động đang đọc tờ giấy da của chính mình. Rồi ông ta biết được số phận của gia đình mình trong cuộn giấy đó. Thành viên đầu tiên của gia đình bị trói vào một cái cây và thành viên cuối cùng sẽ bị đàn kiến ăn thịt.

Ông nhìn sang con mình, đứa bé với cái đuôi lợn đã không còn nằm trong nôi nữa. Ông lần theo dấu vết của đàn kiến và tìm thấy con mình, da đứa bé đã bị teo lại. Ngay lúc đó, ông đọc câu cuối cùng trên cuộn giấy da, rồi cơn gió đã nổi lên và xóa sạch làng Macondo khỏi mặt đất.

Trong khoảnh khắc ấy, Aureliano vừa là một người đọc câu chuyện, vừa là nhân vật trong câu chuyện đó. Ông ta thấy tên mình trong cuốn sách, câu chuyện vẫn đang đi đến hồi kết, và ngay lúc đó ông ta đã hòa làm một với nhân vật rồi biết mất.

Điều này làm nhiều người liên tưởng tới nhiều mô típ truyện thương mại khá phổ biến ngày nay, hoặc chí ít là cảm giác Déjà Vu chẳng hạn. Một cảm giác siêu thực tương tự việc bạn cảm giác đã trải qua chuyện này ở đâu đó rồi.

Nhưng đó không phải là cốt lõi. Nhìn chung, chi tiết này giống một phép ẩn dụ hơn.

Nghĩ xem, những người thân lớn tuổi của bạn, thường ngày vẫn hay kể về những câu chuyện xưa cũ, những nơi họ đã đến, những người họ đã gặp, những niềm vui họ đi qua, những nỗi buồn họ đã trải nghiệm… Một ngày nào đó, bạn – một người ghi nhớ tất thảy về họ, sẽ ra đi, thì ai sẽ còn nhớ về những chuyện đó nữa.

Không ai biết hết, giống như một cơn gió cuốn trôi tất cả.

Nếu kể tên những người tổ tiên của mình, bạn sẽ nhớ được mấy người cùng những câu chuyện vặt họ đã kể. Có thể bạn không biết, có thể bạn chẳng quan tâm, hoặc cũng có thể bạn chưa bao giờ được nghe họ kể…

Đó cũng chính là cách mà một gia đình hay một người biến mất.

Không nói chi đâu xa, hãy nghĩ về bản thân bạn. Mỗi lần gọi về nhà, có phải bạn hay bảo rằng mọi thứ ổn, hỏi thêm vài ba chuyện vặt vãnh rồi cúp máy đúng không. Bạn không muốn nói nhiều hơn, đơn giản chỉ là vì lười giải thích, hay có nói bố mẹ cũng không hiểu hết được vì mọi chuyện quá rắc rối.

Mỗi lần như vậy, mối liên kết ruột thịt của bạn sẽ ngày càng lỏng lẻo. Và đây cũng là lý do vì sao Trăm năm cô đơn lại có sức ảnh hưởng đến vậy. Đơn giản vì nó phản ánh một kiểu tâm lý phổ biến trong đời sống thường ngày.

Sau khi đọc xong cuốn sách, bạn quay trở lại thực tại cùng cơn bão Macondo. Rồi bạn nhìn vào sự cô đơn, những hiểu lầm và những khoảnh khắc đã bỏ lỡ trong đời. Bạn thấy chúng trở nên rõ ràng hơn, cụ thể hơn, và đáng được quan tâm hơn.

Macondo đã biến mất nhưng bạn vẫn còn đây, và đó chính là ý nghĩa quan trọng nhất.